Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

Kỹ năng bán hàng: Đừng bỏ qua cuộc gặp “mặt đối mặt, tay bắt tay”

thiết kế logo cho shop YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html

Thời đại công nghệ cho phép giao tiếp nhanh chóng, dễ dàng nhưng bí quyết bán hàng vẫn ở chỗ bạn phải gặp mặt đối mặt với đối tác.
Trong thế giới của Facebook, Snapchat, Twitter hay Instagram, tiếp thị kỹ thuật số đóng vai trò trung tâm trong cách giao tiếp, và vươn xa hơn là nền tảng khách hàng tiềm năng sẵn có của doanh nghiệp.
Mặc dù kỹ thuật số đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình doanh nghiệp tương tác với thế giới, quy luật bắt buộc là chủ doanh nghiệp và nhân viên vẫn không được bỏ qua hiệu quả của những cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt, tay bắt tay”.
Phương pháp tiếp thị “face-to-face”, theo đúng tên gọi của nó, có nghĩa là nhấc chân lên và bước đến gặp trực tiếp khách hàng của bạn. Không có cách nào hoàn hảo hơn để bày tỏ sự quan tâm đến khách hàng bằng việc hẹn gặp ở chính văn phòng của họ, ra ngoài uống cà phê hoặc ăn trưa, và thảo luận về những mục tiêu, kế hoạch kinh doanh của họ.
Sau đây là những lý do bạn nên ngay lập tức rời khỏi bàn làm việc, và bắt đầu đến gặp mặt khách hàng:

Xây dựng niềm tin và hình ảnh thương hiệu tích cực trong mắt khách hàng

Một bức email hay cuộc điện thoại có thể làm được nhiều việc trong một mối quan hệ thân thiết. Còn việc gặp gỡ những khách hàng hiện tại và tiềm năng lại cho họ một cách nhìn nhận về doanh nghiệp của bạn. Họ biết được bạn là ai, cách bạn đại diện cho doanh nghiệp, và thành ý của bạn trong nỗ lực tìm cách để gặp họ.

Nâng cao doanh số

Khi bạn khiến một khách hàng hạnh phúc, bạn có thêm một khách hàng trung thành. Sau đó, khi khách hàng của bạn có nhu cầu mua những sản phẩm mà bạn và cả đối thủ đều có, họ vẫn sẽ chọn bạn. Bởi họ tìm thấy sự tin tưởng ở người bán này hơn những người bán khác.

Bạn sẽ làm cho khách hàng trở thành những người ủng hộ

Một đề nghị đưa ra lúc gặp mặt trực tiếp sẽ có hiệu quả gấp 34 lần so với việc gửi nó qua email.
Không có sức mạnh truyền thông nào vượt qua được lời truyền miệng, thậm chí là những bài đánh giá trên mạng. Vì vậy, một khi bạn đã khiến cho khách hàng trở thành người ủng hộ, điều đó không chỉ là bạn có thêm một sự trung thành, mà bạn còn có thêm một nhân viên bán hàng hiệu quả nhất cho doanh nghiệp của mình.
Trong một bài báo gần đây được đăng trên Harvard Business Review, tác giả Vanessa K. Bohns đã dẫn chứng bằng hai công trình nghiên cứu để xác định ưu thế của một cuộc gặp mặt trực tiếp so với việc gửi email. Như dự đoán, họ đã xác định được một đề nghị đưa ra lúc gặp mặt trực tiếp sẽ có hiệu quả gấp 34 lần so với việc gửi nó qua email.
“Tôi không nói rằng cách duy nhất để thành công chỉ đơn thuần là theo đuổi những cuộc gặp mặt cá nhân, bởi vì để có được tiếng nói trong thời đại này, bạn còn cần có một kế hoạch sử dụng các phương tiện kỹ thuật số. Cái tôi muốn nói đến chính là, trong một thế giới mà việc kết nối trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết như hiện nay, đôi khi chúng ta lại quên mất sự quan trọng của những mối quan hệ và tương tác đòi hỏi việc gặp mặt trực tiếp”, Phó chủ tịch – Giám đốc điều hành American Management Services, Louis Mosca cho biết.
Linh Tăng
* Nguồn: Doanh Nhân Sài Gòn
Kỹ năng bán hàng: Đừng bỏ qua cuộc gặp “mặt đối mặt, tay bắt tay”
 23/11/2018
 9,689 lượt xem

  
Share

Sự tăng trưởng thần kỳ của Hotmail sau 18 tháng ra mắt

thiết kế logo công giáo YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html

2 triệu người dùng chỉ trong 18 tháng ra mắt, Hotmail trở thành một thế lực mới trên Internet và nhanh chóng được Microsoft mua lại với giá 400 triệu USD.

Những bất đồng ban đầu

Sau buổi họp gọi vốn lần thứ 20, Sabeer Bhatia và Jack Smith, hai cựu kỹ sư của Apple đã chính thức gọi được 300.000 USD từ quỹ mạo hiểm Draper Fisher Jurvetson. Hai nhà sáng lập này tự tin rời phòng họp với tấm séc 50.000 USD trong tay và nghỉ luôn công việc toàn thời gian ngay hôm đó.
Sau một đêm dài suy nghĩ tên gọi cho đứa con tinh thần của mình, vợ của Smith đã gợi ý: "Hotmail". Tên gọi này còn hay hơn khi Smith nhận ra nó chứa 4 chữ cái "HTML", một ngôn ngữ lập trình phổ biến.
Trong lúc đó, Bhatia và nhóm kỹ sư mới thành lập đã hoàn tất phiên bản thử nghiệm cho Hotmail, họ liên tục gửi sản phẩm này tới những người bạn thường xuyên sử dụng email cho công việc nhằm thu gom tất cả những gợi ý, từ giao diện, đến thứ tự công cụ… tất cả đều xuất phát từ nhu cầu của người dùng.
Không nằm ngoài dự đoán, nhà đầu tư cực kỳ ấn tượng với bản mẫu trên và muốn bàn đến giai đoạn phát triển.
"Chúng ta sẽ giới thiệu Hotmail đến người dùng như thế nào?"
"Qua bảng quảng cáo ngoài trời," Bhatia cho hay.
"Trời ạ", đại diện nhà đầu tư phản ứng. "Chúng ta sẽ tốn cả đống tiền để cung cấp một sản phẩm miễn phí. Tại sao không gửi nó tới tất cả người dùng Internet?"
"Như thế thì spam người dùng quá." Smith trả lời.
Nhà đầu tư tiếp tục gợi ý:
"Hay là chúng ta ghi "Tái bút: Anh yêu em. Nhận ngay email miễn phí tại Hotmail" vào cuối mỗi email được gửi?"
Cả Bhatia và Smith ngay lập tức thể hiện sự khó chịu với ý kiến "lạ đời" kia. Nhà đầu tư nhấn mạnh: "Các anh không hiểu sao? Dòng chữ đó sẽ là công cụ marketing miễn phí của chúng ta."
Vẫn không đồng tình với ý kiến trên, Sabeer Bhatia và Jack Smith thuyết phục nhà đầu tư gác lại chuyện này để tập trung vào ngày triển khai sản phẩm.

Khởi đầu thuận lợi

Hotmail cho phép người dùng tự do đăng ký vào 4/7/1996 (ngày Quốc khánh Hoa Kỳ). 100 email được tạo trong 1 giờ đầu tiên và con số trên không ngừng tăng, người dùng mới liên tục giới thiệu Hotmail đến người thân và bạn bè: 80% tài khoản trả lời khảo sát rằng họ biết đến Hotmail qua người thân.
Nhưng tốc độ gia tăng kia dần chững lại, nhà đầu tư một lần nữa kêu gọi dán một dòng quảng cáo vào cuối mỗi email. Phương thức "spam" này chứa đựng không ít rủi ro nhưng cũng đem lại cơ hội phát triển cực lớn. Đặc biệt là khi số lượng người dùng là thước đo thành công của mô hình Hotmail. "Tái bút: Anh yêu em. Nhận ngay email miễn phí tại Hotmail" sẽ quyết định tất cả.
Sau một ngày suy nghĩ, Bhatia và Smith quyết định sẽ chèn dòng quảng cáo vào dưới mỗi email, nhưng lược bỏ đi phần "Tái bút: Anh yêu em". Và đó cũng là quyết định đúng đắn nhất của hai nhà sáng lập, chỉ trong vòng vài giờ, số lượng người đăng ký Hotmail đã tăng vọt lên hơn 3.000 tài khoản mỗi ngày và liên tục gia tăng theo cấp số nhân.
Đến ngày 1/5/1995, hơn 750.000 tài khoản đã được mở và Hotmail chạm mức 1 triệu người dùng chỉ sau 6 tháng. Tốc độ trên nhanh chóng tăng lên 20.000 tài khoản mới mỗi ngày, khiến các nhân viên kỹ thuật của Hotmail phải làm mọi cách để máy chủ không bị quá tải.
Dòng chữ ngắn ngủi nằm dưới chân mỗi email đã trở thành một "đại diện thương hiệu" cho Hotmail. Đánh đổi lại việc sử dụng một công cụ liên lạc miễn phí, người dùng vô tình trở thành những nhân viên sale bất đắc dĩ cho sản phẩm này.
Với dòng chữ kia, Hotmail đột nhiên trở nên hấp dẫn đối với người nhận mail (khách hàng tiềm năng) vì: (1) Người gửi mail cũng là một thành viên của Hotmail. (2) Hotmail đang hoạt động rất tốt, và (3) Hotmail hoàn toàn miễn phí.
Rất nhiều nhãn hàng tiêu dùng đã áp dụng thành công phương thức tiếp thị liên kết này, nhưng Hotmail là thương hiệu internet đầu tiên sử dụng hiệu quả đến thế. Bhatia đã gửi một email đến người bạn tại Ấn Độ của mình và chỉ trong 3 tuần, hơn 100.000 tài khoản email tại Ấn Độ đã được mở.
Hotmail cũng trở thành công cụ quản lý email số 1 tại Thụy Điển dù chưa chi một đồng quảng cáo nào tại đây.
Một doanh nghiệp Internet khác đã "đốt" hơn 20 triệu USD để quảng cáo, nhưng kết quả thu lại chỉ bằng 1/3 Hotmail, chưa kể Hotmail sở hữu số lượng người dùng tương đương chỉ với 1/2 thời gian.
Một chuyên gia phân tích đã nhận định: "Nếu so sánh Hotmail như là một bệnh dịch, nó không khác gì thần Zeus hắt xì lên cả trái đất vậy."


18 tháng sau ngày chính thức xuất hiện, Hotmail đã có hơn 12.000.000 người dùng và nhanh chóng được Microsoft mua lại với giá 400 triệu USD, trở thành case study đầu tiên của Marketing lan truyền (Viral Marketing).

10 xu hướng tiếp thị cần quan tâm trong năm 2019

thiết kế logo bệnh viện YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html

Trong bối cảnh thay đổi liên tục của ngành tiếp thị hiện nay, rất khó để dự đoán được phương pháp nào sẽ kết nối hiệu quả nhất với người tiêu dùng.
Ngay khi các nhà tiếp thị tin rằng họ đã hiểu được đối tượng mục tiêu thì một công nghệ mới, hành vi mới hoặc thậm chí là một đối tượng khách hàng hoàn toàn mới sẽ làm thay đổi mọi thứ.
Chính vì vậy, những người làm tiếp thị càng cần phải nhìn lại năm qua và chú ý đến những xu hướng đang phát triển, những công nghệ và phương pháp sẽ ảnh hưởng đến sự thành công của lĩnh vực tiếp thị trong năm 2019.

1. Chiếc phễu đang chuyển đổi

Phễu bán hàng và marketing hiện tại chấp nhận bất cứ ai, đánh giá họ theo khả năng sinh lợi và từ chối khi tưởng rằng họ không phù hợp. Thế nhưng, các doanh nghiệp cũng đang bắt đầu tận dụng nội dung để hướng đến các đối tượng chuyên biệt. Tiếp cận những người thực sự quan tâm đến thương hiệu không chỉ hiệu quả hơn về mặt chi phí mà cũng đỡ tốn thời gian và mang lại giá trị bền vững hơn. Người tiêu dùng không cần những doanh nghiệp khoác lên vẻ hào nhoáng để ve vãn họ; họ tìm sự tin cậy và những mối quan hệ thực sự.

2. Nội dung là tất cả

Trong xu thế hiện nay, nội dung là tất cả. Bạn cần thu hút khách hàng: khơi gợi cảm hứng, kích thích suy nghĩ, làm họ phấn khích hoặc lôi cuốn cảm xúc của họ. Không đơn thuần là đặt nội dung trước mặt mọi người và hy vọng họ sẽ phản ứng lại mà khuyến khích họ chia sẻ và tương tác với nội dung. Nội dung, dù là một bài viết hoặc video trên mạng xã hội, đều dẫn đến truyền thông hai chiều và đây là cách quan trọng để xây dựng niềm tin với khách hàng.

3. Dịch vụ khách hàng sử dụng chatbot

Dịch vụ khách hàng luôn cần thiết, nhưng không phải ai cũng cảm thấy thoải mái khi nói chuyện với một người thật qua điện thoại hoặc có thời gian đọc hết email. Chính vì những lý do như thế nên chatbot trở nên tiện lợi trong dịch vụ khách hàng.
Những trợ tá AI được tích hợp vào các website có khả năng trả lời thắc mắc và thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng. Nhiều AI có thể làm được điều này mà “vẫn có tính cách”. Theo báo cáo của Công ty tư vấn Grand View Research, thị trường chatbot toàn cầu sẽ chạm mức 1,25 tỉ USD vào năm 2025 và đang tăng trưởng với tốc độ 24,3% mỗi năm.

4. AI tiếp tục phát triển

AI tiếp tục phát triển và trở nên phổ biến hơn. Công nghệ này làm cho việc phân tích dữ liệu hiệu quả hơn, có thể nhanh chóng tiếp cận đối tượng tiềm năng và thực thi những nhiệm vụ vốn khó khăn đối với con người.
AI cũng có thể theo dõi và kịp thời nắm bắt những hành vi mua sắm trực tuyến, dù đang có những quan ngại rằng liệu điều này có hợp đạo đức hay không. Dù doanh nghiệp có quyết định tận dụng công nghệ AI theo cách này hay không thì cũng nên chú ý đến phản ứng của người tiêu dùng và quan sát xem đối thủ cạnh tranh của họ đang sử dụng AI ra sao.

5. Mọi người bắt đầu thận trọng về an toàn mạng

Ngay cả khi khách hàng không để ý đến vấn đề an toàn mạng thì họ vẫn xứng đáng nhận được sự cam kết tối đa về quyền riêng tư, bảo vệ dữ liệu và các chi tiết tài chính. Không phải mọi công ty đều cam kết điều này, nhưng khách hàng đã bắt đầu để ý đến.
Trong một nền kinh tế mà mọi người trở nên thận trọng với những vụ rò rỉ, đánh cắp thông tin và tấn công mạng thì họ sẽ ưu ái hơn nếu một tổ chức có thể đưa ra lời hứa về trải nghiệm mua sắm an toàn.

6. Tìm kiếm bằng giọng nói tiếp tục mạnh lên

Với cách tìm kiếm bằng giọng nói, việc truy cập thông tin trực tuyến trở nên tiện lợi hơn và còn giúp giảm thời gian phải tiếp xúc với màn hình. Chính vì vậy đây là một sự chọn lựa ngày càng được ưa chuộng. Theo Search Engine Land, doanh số thương mại điện tử từ tìm kiếm bằng giọng nói của Mỹ đạt 1,8 tỉ USD vào năm 2017 và ước tính đạt 40 tỉ USD vào năm 2022.

7. Video dọc đang trở thành xu thế

Video là một hình thức tiếp thị bắt buộc; nó từng là một phần của chiến lược tiếp thị, nhưng hiện nay vị thế của video còn bao trùm hơn nữa. Mọi người xem nhiều giờ video trong một ngày và YouTube là cỗ máy tìm kiếm lớn nhất sau người anh em Google. Dù là trên Facebook, Instagram hay các nền tảng khác thì video vẫn luôn hiện diện.
Rất nhiều người hiện đang xem video trên điện thoại di động và họ không thích quay ngang điện thoại. Video thông thường (horizontal video – video ngang) có tỷ lệ hiển thị là 16:9, tỷ lệ này có thể là 18:9 với các dòng điện thoại thông minh đời mới, còn với vertical video – video dọc thì tỷ lệ hiển thị sẽ là 9:16 hoặc 9:18 với các dòng điện thoại thông minh mới.
Một trong những mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay là Instagram đã ra mắt IGTV vào giữa năm 2018 với mục đích là xem video ở trạng thái dọc. IGTV cho phép đăng nội dung dài hơn và người dùng có thể xuất bản các đoạn video phỏng vấn, “demo”, “case study”, nội dung thực tế ảo 360 độ, livestream… Các chiến lược truyền thông mạng xã hội cần nên lưu ý đến hình thức video này.

8. Đã đến lúc tập trung vào thế hệ Z

Thế hệ Z đang già hơn, bắt đầu bước vào thị trường lao động và sở hữu sức mạnh mua sắm. Khó có thể tuyên bố chắc chắn điều gì về thế hệ này, nhưng chúng ta cần nhớ vài điều: Thế hệ Z tìm kiếm tính xác thực và họ thích các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội hơn; do lớn lên trong một thế giới nhiều lo lắng và một nền kinh tế có nhiều thách thức, vì thế họ sẽ ưu ái hơn cho những công ty đang nỗ lực làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

9. Tìm kiếm hình ảnh đang phát triển

Bên cạnh tìm kiếm bằng giọng nói, một hình thức tìm kiếm khác cũng đang cất cánh – đó là tìm kiếm hình ảnh. Từ lâu, Google đã triển khai tính năng tìm kiếm ảnh ngược (giúp người dùng truy ra những bức ảnh tương tự hoặc những thông tin có liên quan đến bức ảnh mà họ đã cung cấp), nhưng với công nghệ camera mới, mọi người có thể chụp một bức ảnh trong thế giới thực và tìm thông tin về nó.
Pinterest đã giới thiệu tính năng “Lens feature” vào đầu năm 2018 và nền tảng mảng xã hội này cho biết rằng hằng tháng người dùng của họ tiến hành 600 triệu lượt tìm kiếm với tính năng này.

10. Những gương mặt có ảnh hưởng trở nên đa dạng hơn

Tiếp thị ảnh hưởng là một hình thức truyền thông xã hội kinh điển, nhưng ngày nay ai là người thật sự có ảnh hưởng với người tiêu dùng? Các công ty thường dựa vào người nổi tiếng để thuyết phục mọi người mua sản phẩm, nhưng người tiêu dùng đang nghiêng về những người đồng trang lứa, có cùng hoàn cảnh với họ.
Nhiều thương hiệu đã chuyển từ hình thức tiếp thị sử dụng người nổi tiếng sang hợp tác với “người thật” (micro-influencer) bởi vì khi đề cập đến thương hiệu, khách hàng của họ – chẳng hạn các người mẹ có con nhỏ – thường đặt niềm tin nhiều hơn vào những bà mẹ khác.

Bookaholic #6: HBR On Strategic Marketing - Marketing Chiến lược

thiết kế logo bằng photoshop cc YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html

Cách xây dựng thương hiệu và những mô hình tiếp thị cũ có thể không còn phù hợp với kỷ nguyên số ngày nay. Khi người tiêu dùng có nhiều công cụ để tiếp xúc và tương tác với thương hiệu thì việc đẩy thông tin một chiều có thể trở nên lạc hậu. Thay vào đó, việc nuôi dưỡng và xây dựng mối quan hệ với đúng nhóm đối tượng khách hàng một cách xuyên suốt quá trình mua hàng là điều mà các marketer nên ưu tiên thực hiện.
Cuốn sách On Strategic Marketing – Marketing Chiến lược có thể được xem là cuốn sách mang lại những luồng suy nghĩ mới cho các marketer đã có nhiều kinh nghiệm lâu năm trong ngành, có khao khát tạo ra những thay đổi với những mô hình mới đang được các nhà tư vấn chiến lược marketing và các công ty hàng đầu thế giới ứng dụng. Nếu các bạn không đọc gì khác về tiếp thị mang lại lợi thế cạnh tranh, hãy đọc quyển On Strategic Marketing của HBR. Quyển sách này kết hợp nhiều bài viết trong kho lưu trữ Đánh giá kinh doanh Harvard và chọn những bài viết quan trọng nhất để giúp bạn sáng tạo lại cách thức marketing của mình bằng cách đặt khách hàng ở trung tâm trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Trong số thứ 6 của Bookaholic lần này, Brands Vietnam có cuộc trò chuyện với chị Trần Lê Thanh Vân, Former Head of Marketing & Communication tại Nielsen Việt Nam, về những nội dung nổi bật của cuốn sách này. Bookaholic là chuyên mục đánh giá những quyển sách hay về thương hiệu, truyền thông và kinh doanh của Brands Vietnam.
* Trước tiên cảm ơn chị Vân đã nhận lời tham gia Bookaholic #6 của Brands Vietnam. Điều gì khiến chị lựa chọn đọc cuốn sách On Strategic Marketing này trong rất nhiều những cuốn sách về tiếp thị?
Đầu tiên, xin cảm ơn Brands Vietnam đã tạo điều kiện cho Vân được tham gia buổi chia sẻ ngày hôm nay. Sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số đã mang đến cho các công ty rất nhiều cơ hội để tương tác trực tiếp với khách hàng, để thu thập và khai thác dữ liệu về họ, hay để triển khai thử nghiệm những sản phẩm, dịch vụ. Nếu không biết tận dụng những cơ hội mà công nghệ đang mang lại để xây dựng thương hiệu và để tiếp cận với khách hàng một cách hiệu quả, các marketer sẽ dễ lãng phí chi phí marketing của mình mà lại không mang lại được hiệu quả mong muốn. Do vậy, với tựa đề “Xây dựng thương hiệu trong kỷ nguyên số” thật sự rất hấp dẫn để khám phá.
* Chị có thể tóm tắt sơ lược những nội dung nổi bật của cuốn sách?
Giống như tiêu đề đã đề cập, cuốn sách phân tích và đưa ra một số lời khuyên để giúp các marketer hiểu rõ tầm quan trọng của việc cần phải thay đổi chiến lược marketing để phù hợp cho tương lai trong kỷ nguyên số. Cuốn sách được cấu trúc thành 10 bài viết:
Bài viết số 1 nói về sự cần thiết phải tái tư duy về marketing, lý do tại sao các marketer phải thay đổi suy nghĩ của mình và từ đó dẫn đến thay đổi trong cách thức vận hành cũng như thực hiện các kế hoạch marketing.
Bài số 2 giải thích tại sao mô hình hình phễu nổi tiếng được nhiều marketer sử dụng trong thời gian qua không còn phù hợp cũng như các ví dụ thực tế chứng minh sự lỗi thời của mô hình đó.
Bài số 3 và 4 nói về những thiển cận và sai lầm trong marketing và gợi ý một vài cách khắc phục.
Bài số 5 đưa ra các đặc điểm mà hiện nay các thương hiệu lớn trên thế giới đã và đang thiết kế nên cách để họ xây dựng và quản lý giá trị và tài sản thương hiệu.
Bài số 6 nhấn mạnh vai trò của phụ nữ đang ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế hiện đại và đưa ra mô hình phân khúc mới cho nhóm người tiêu dùng này.
Bài viết số 7 dành cho thị trường B2B, là những lời khuyên làm sao định hình được những giá trị mà thương hiệu muốn mang lại cho khách hàng một cách rõ ràng.
Bài số 8 và 9 cho người đọc góc nhìn về việc xây dựng lòng trung thành và sự quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp thông qua chiến lược xây dựng cộng đồng.
Bài số 10 lần nữa nhấn mạnh sự quan trọng cho việc gắn kết giữa đội ngũ Marketing và Kinh doanh của một doanh nghiệp.
Nếu không biết tận dụng những cơ hội mà công nghệ đang mang lại để xây dựng thương hiệu và để tiếp cận với khách hàng một cách hiệu quả, các marketer sẽ dễ lãng phí chi phí marketing của mình mà lại không mang lại được hiệu quả mong muốn.
* Mở đầu cuốn sách là một bài viết với tiêu đề rất đáng chú ý về việc cần tái tư duy về marketing. Chị có thể chia sẻ quan điểm về nội dung và hướng thay đổi mà bài viết nhấn mạnh?
Bài viết này đưa ra các luận điểm củng cố cho việc đã đến lúc các marketer cần chuyển đổi cách vận hành các hoạt động marketing của thương hiệu. Trước kia, cách marketing truyền thống là chủ yếu sử dụng truyền thông một chiều và tập trung vào việc bán thật nhiều sản phẩm thì bây giờ các thương hiệu cần phải tái thiết sang “đặt khách hàng làm trọng tâm”. Hướng thay đổi nổi bật mà bài viết này đề cập là mô hình thay thế CMO bằng một CCO (Giám đốc chăm sóc khách hàng). Mô hình này khá hay và cũng đã có nhiều công ty lớn áp dụng. Tuy nhiên, tại thị trường Việt Nam, mô hình này rất khó để áp dụng trong thời điểm này.
Mô hình thay thế CMO bằng CCO chỉ phù hợp với các thị trường lớn, khi các thị trường đó đã chỉn chu, đầy đủ về hệ thống, công nghệ hỗ trợ. Họ có thể thiết lập được các gói thông tin người mua hàng rõ ràng, theo dấu được toàn bộ hành trình mua hàng của người tiêu dùng (end to end customer journey) thì khi đó vai trò của người CCO mới thực sự hiệu quả. Trong khi đó, thị trường Việt Nam chưa có chuẩn mực nào trong việc thiết lập thông tin người mua hàng, mỗi thương hiệu có những tiêu chuẩn khác nhau. Chúng ta vẫn chưa có hệ thống nào theo dấu được toàn bộ hành trình mua hàng của người tiêu dùng. Thực sự, thị trường Việt Nam sẽ theo sau các thị trường lớn, khi họ đã áp dụng mô hình mới thành công và chuyển giao về thị trường Việt Nam. Vì vậy, theo tôi bây giờ vẫn còn quá sớm để thị trường chúng ta có thể áp dụng mô hình này.
* Chị tâm đắc nhất với những nội dung nào trong cuốn sách?
Có ba phần trong cuốn sách mà tôi rất hứng thú.
Thứ nhất là mô hình vòng lặp được đưa ra ở bài số 2. Bài viết này xoáy sâu phân tích cho thấy phép ẩn dụ hình phễu truyền thống không còn thích hợp. Tại sao? Với phép ẩn dụ hình phễu trong nhiều năm qua, các marketer giả định rằng người tiêu dùng bắt đầu với số lượng lớn các thương hiệu tiềm năng trong tâm trí và cẩn thận loại trừ sự lựa chọn của họ cho đến khi họ quyết định mua hàng. Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, người tiêu dùng có nhiều điều kiện để tiếp cận với thương hiệu hơn như thông qua social media, hỏi ý kiến người thân, bạn bè. Họ không nhất thiết phải cân nhắc, xem xét những thương hiệu có sẵn trong tâm trí mà có thể thêm vào hoặc bỏ ra một thương hiệu nào đó khi có tác động. Và nếu có những kích thích như khuyến mãi, hoặc giá tốt, … thì họ sẽ chọn mua.
Mô hình phễu truyền thống nói rằng sau khi mua hàng thì tương tác giữa người tiêu dùng và thương hiệu dừng lại. Nhưng trong thời đại hiện nay, sau khi sử dụng sản phẩm / dịch vụ, tương tác giữa người tiêu dùng và thương hiệu vẫn tiếp diễn. Họ có thể đánh giá ngược lại việc sử dụng sản phẩm bằng cách chia sẻ trên social media, tạo ra tiếng nói ủng hộ hoặc chống lại thương hiệu và khuyến nghị cho bạn bè. Vì vậy, tương tác giữa người tiêu dùng và thương hiệu trở nên bền bỉ lâu dài hơn. Bài viết này nhấn mạnh đến một điều tôi rất thích là trải nghiệm và tương tác của khách hàng với thương hiệu là một hành trình không ngừng nghỉ. Và các thương hiệu phải lấy trải nghiệm của khách hàng làm trung tâm trong cách thức làm tiếp thị truyền thông, làm dịch vụ khách hàng, xây dựng thương hiệu thì mới mang lại sự phát triển lâu dài cho thương hiệu.
Trải nghiệm và tương tác của khách hàng với thương hiệu là một hành trình không ngừng nghỉ.
Thứ hai là bài viết số 4 về những sai lầm trong marketing, nguyên nhân và cách khắc phục. Bài viết này đưa ra nhiều trường hợp sai lầm ở rất nhiều bước của một kế hoạch tiếp thị chiến lược thông qua các ví dụ thực tiễn. Có hai sai lầm đáng chú ý nhất là cách phân khúc nhóm khách hàng mục tiêu và thiết kế bao bì sản phẩm.
Về phân khúc nhóm khách hàng mục tiêu, cách mà các thương hiệu vẫn hay làm là phân khúc theo nhân khẩu học. Tuy nhiên có một yếu tố mà các thương hiệu nên cân nhắc là nhu cầu cụ thể của khách hàng mục tiêu tại mỗi thời điểm khác nhau trong cuộc sống hằng ngày của họ. Trong sách có đưa ra ví dụ về sản phẩm sữa uống liền. Nếu chỉ phân khúc khách hàng cho sản phẩm này là người đi làm buổi sáng thôi thì không đúng.
Qua khảo sát cho thấy những người sử dụng sản phẩm sữa uống liền thuộc nhiều nhóm đối tượng khác nhau như người đi làm sớm, sinh viên, học sinh, nhưng họ có chung mục tiêu tiêu dùng là muốn có một bữa sáng đầy đủ dinh dưỡng mà không tốn nhiều thời gian. Vì vậy, nếu quên đi mục tiêu tiêu dùng hay nhu cầu cụ thể vào thời điểm đó của nhiều nhóm khách hàng khác nhau thì thương hiệu đang bỏ lỡ cơ hội phát triển doanh thu.
Không chỉ trong bài viết này mà các báo cáo của Nielsen cũng chỉ ra vai trò quan trọng bao bì sản phẩm, công đoạn mà các marketer thường hay không xem trọng. Bao bì không những thể hiện được những tuyên bố hay giá trị mà thương hiệu muốn mang đến cho người tiêu dùng mà còn có khả năng tạo ấn tượng với người tiêu dùng khi trưng bày trên kệ hàng. Và trong thời buổi có rất nhiều chủng loại sản phẩm trên thị trường như hiện nay, thương hiệu phải đầu tư hơn vào việc thiết kế bao bì sản phẩm để được nổi bật so với đối thủ khác và nổi bật trên kệ hàng.
Thứ ba là phần cơ hội từ nhóm khách hàng mục tiêu là nữ giới. Phụ nữ có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện nay khi họ trở nên độc lập hơn trong tài chính, phụ nữ là người quyết định việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu nào cho họ và gia đình. Ngoài việc phân chia các nhóm khách hàng nữ dựa trên nhân khẩu học, bài viết này còn phân khúc khách hàng nữ dựa trên “tính chất giai đoạn cuộc đời” của họ. Tìm hiểu về các phân khúc này có thể mang đến cho các marketer một vài đầu mối thú vị trong việc tìm kiếm chìa khóa cho sự tăng trưởng vượt trội.
* Có thể thấy xuyên suốt cuốn sách, các tác giả đều khẳng định đã đến lúc các thương hiệu cần quan tâm đến trải nghiệm của khách hàng nhiều hơn là chỉ tập trung vào sản phẩm của mình. Vậy ngoài những thay đổi về tư duy marketing ở trên, cuốn sách còn điểm qua những yếu tố nào mà các marketer cần lưu ý?
Như tôi đã nói, hành trình tương tác của người tiêu dùng với thương hiệu đang thay đổi rất khác biệt. Đây là một hành trình lâu dài với nhiều điểm chạm mới so với trước đây. Theo các nghiên cứu của Nielsen, ngoài việc tìm hiểu thông tin từ các phương tiện tuyền thông đại chúng, tại các kênh thương mại hay trên các mạng xã hội, người tiêu dùng hỏi ý kiến gia đình, bạn bè về việc mua hàng của mình. Rõ ràng, người tiêu dùng hiện nay bị ảnh hưởng bởi ý kiến của những người xung quanh và họ cũng có sức cộng hưởng đến những khách hàng tiềm năng tiếp theo. Vì vậy, ở bài viết số 8 và 9, cuốn sách khuyên rằng ngoài việc tập trung tài lực và nguồn lực vào quảng cáo để người tiêu dùng biết đến thương hiệu của mình thì các marketer cũng nên tập trung củng cố lòng trung thành của khách hàng và xây dựng những cộng đồng thương hiệu để những cộng đồng đó tạo nên sức lan tỏa tích cực. Các marketer cần biết rằng mỗi khách hàng đều có tiềm năng trở thành đại sứ và người ủng hộ thương hiệu và sức lan tỏa từ cộng đồng thương hiệu đôi khi lớn hơn sức lan tỏa từ các phương tiện truyền thông đại chúng. Và mặc dù ngày nay, người tiêu dùng trở nên quyền lực hơn nhưng các thương hiệu cũng trở nên quyền lực hơn bởi đã có rất nhiều nền tảng và công cụ giúp các thương hiệu kết nối trực tiếp với người tiêu dùng, không cần phải thông qua một bên thứ 3 như báo chí, TV, radio,… Hiện nay, website hoặc một fanpage trên Facebook đã có thể là một kênh thông tin chính thống của thương hiệu và có thể tương tác trực tiếp với người tiêu dùng.
Tóm lại, việc các marketer cần xác định nhu cầu của người tiêu dùng, xác định điểm chạm của họ với thương hiệu, cảm nhận của họ khi mua và sau khi sử dụng sản phẩm như thế nào và họ tạo ra ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực về thương hiệu đến cộng đồng xung quanh là quan trọng.
Mỗi khách hàng đều có tiềm năng trở thành đại sứ và người ủng hộ thương hiệu và sức lan tỏa từ cộng đồng thương hiệu đôi khi lớn hơn sức lan tỏa từ các phương tiện truyền thông đại chúng.
* Phần cuối của cuốn sách đề cập đến một vấn đề tồn tại ở nhiều doanh nghiệp hiện nay, chính là sự thiếu gắn kết giữa bộ phận Kinh doanh và bộ phận Marketing. Theo chị, bài viết có những luận điểm nào hay mà các doanh nghiệp có thể tham khảo để “chấm dứt cuộc chiến giữa bán hàng và marketing”?
Đa số ở các công ty lớn hay các công ty MNC thì Marketing là bộ phận hỗ trợ đắc lực để giúp bộ phận Kinh doanh có thể hoạt động tốt bởi kế hoạch marketing được dựa trên chỉ tiêu doanh số hàng năm của công ty. Mặc dù vậy, tôi cho rằng mối quan hệ “căng thẳng” giữa hai bộ phận này vẫn là điều có thực vì bản chất công việc của mỗi bộ phận khác nhau và chịu những áp lực khác nhau nhưng không phải là không có cách giúp hai bộ phận quan trọng này có cùng chung tiếng nói.
Bài này đưa ra một vài gợi ý mà theo tôi khá hay và thực tiễn để các bạn có thể tham khảo, chẳng hạn như làm một bảng đánh giá chung giữa hai bộ phận, đặt những KPI chung, xây dựng phễu mua hàng chung, đặt hai phòng Kinh doanh và Marketing ngồi gần nhau,… Hiện nay, các marketer lâu năm trong ngành, có tâm và có tầm luôn trăn trở đặt ra những KPI có ý nghĩa thực tiễn với doanh số bán hàng. Và các agency thực hiện truyền thông tiếp thị cũng ngày càng muốn củng cố thêm những KPI họ mang đến cho marketer.
* Chị có lời khuyên hay lưu ý gì cho các độc giả muốn tìm đọc cuốn sách này không?
Có một vài phần dịch trong cuốn sách chưa được chính xác nên gây khó hiểu, vì vậy khi đọc cần liên tưởng đến thuật ngữ tiếng anh và đặt cụm từ đó trong bối cảnh cụ thể để hiểu được đúng ý mà tác giả muốn truyền tải. Và theo tôi, cuốn sách này sẽ phù hợp hơn với các marketer ở cấp quản lý, đã có dày dặn kinh nghiệm và đang muốn tìm tư duy mới, định hướng mới trong cách thức vận hành và làm marketing.
* Cảm ơn chị với những chia sẻ rất thú vị về cuốn sách On Strategic Marketing hôm nay. Chúc chị nhiều thành công!
Bạn có thể đặt sách tại: http://hbr.org.vn/san-pham/marketing-chien-luoc

Công bố Đề thi Vòng loại Young Marketers 7

thiết kế logo bằng chữ YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html


Young Marketers 7 vừa công bố danh sách 18 anh chị marketer sẽ góp mặt trong cuộc thi với vai trò Ban giám khảo & giảng viên của cuộc thi năm nay.
Tham gia vào hành trình Young Marketers, trở thành những tiềm năng sáng giá được lựa chọn ở mùa thứ 7, 10 bạn trẻ năm nay sẽ được đào tạo chuyên sâu 9 tháng với các marketer nổi bật của ngành tại Việt Nam trên chương trình đặc biệt độc quyền của Elite Development.
Ban tổ chức Young Marketers 7 đã giới thiệu danh sách 18 empower đầu tiên của hành trình 2018 - 2019, những gương mặt sẽ tham gia với vai trò Ban Giám Khảo & Giảng viên.
Dưới đây là danh sách 18 anh chị giảng viên và ban giám khảo của Young Marketers 7:
  • Anh Nguyễn Đình Toàn - Senior VP of Marketing, Suntory PepsiCo
  • Chị Đặng Thu Hà - Head of Marketing, Vinasoy
  • Chị Nguyễn Thị Mai - VP of Marketing, Unilever
  • Anh Hùng Võ - VP of Marketing, Biti's Vietnam & Asia
  • Chị Phạm Nhã Uyên - Regional Marketing Head, Coca-Cola Southeast Asia
  • Anh Lê Bá An Bình - Senior Marketing Director, Visa Indochina
  • Chị Đặng Hoài An - Head of Marketing, PepsiCo Foods
  • Chị Phạm Cao Huệ Chi - Regional Brand Director, BAT
  • Chị Tina Đỗ - Head of Digital and Media, Nestlé Vietnam
  • Anh Sanjay Bhasin - CEO, Dentsu Agis Network Indochina
  • Chị Christy Lê - Country Head, Facebook Vietnam
  • Chị Mai Thị Tuyết Hoa - Group Account Director, Kantar Millward Brown
  • Anh Vương Mạnh Giang - Director, Cimigo Research
  • Chị Trần Liên Phương - Research Director, Insight Asia
  • Anh Hồ Công Hoài Phương - Group Planning Director, Dentsu Brand Agencies Vietnam
  • Anh Ngô Minh Thuận - Founder & Managing Director, DNA Digital
  • Anh Nguyễn Tiến Huy - Founder & Managing Director, DigiPencil MVV
  • Anh Nguyễn Hữu Nghị - Founder & Managing Director, Brands Vietnam
Hãy cùng chờ đợi 5/10 tới, thời điểm thử thách mùa 7 được công bố để tham gia vào hành trình Young Marketers nếu bạn nghiêm túc với marketing nhé.
Young Marketers – Empower the next marketing generation.
Cuộc thi Young Marketers 7 là một phần của hành trình Empower The Next Marketing Generation của Young Marketers - bên cạnh Young Marketers Elite Development Program, với Brands Vietnam là đối tác chiến lược từ 2013, Advertising Vietnam là đối tác truyền thông từ 2018, cùng với đối tác đồng hành là thương hiệu Biti’s Hunter.
Để biết thêm thông tin hoặc giải đáp thắc mắc liên quan đến cuộc thi, xin liên hệ BTC qua:

2 quyết định quan trọng mang lại sự hài lòng cho khách hàng

thiết kế logo bằng cs6 YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html

Văn hóa doanh nghiệp sẽ quyết định chính sách và công cụ, nhưng chính sách và công cụ cũng là khởi nguồn của việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Một gia đình đi du lịch ở đảo Bali (Indonesia), ở khách sạn Ritz Carlton. Gia đình có em bé bị dị ứng với nhiều loại thức ăn, nên họ đã mang loại thực phẩm riêng cho bé. Chẳng may, giữa chuyến du lịch, thức ăn mang theo bị hỏng. Nhân viên khách sạn đã giúp họ tìm khắp đảo Bali nhưng không đâu bán loại thức ăn đó.
Trở về thì hỏng chuyến du lịch của cả gia đình, mua đồ ăn khác thì rủi ro cho em bé. Cả khách hàng và nhân viên khách sạn đang rất bế tắc thì người đầu bếp đã nhớ ra ở Singapore có một cửa hàng bán loại thực phẩm này. Anh đã gọi điện nhờ mẹ vợ đi mua và bay sang Bali để đưa cho gia đình du khách trước khi em bé đói bụng.
Bạn có thể quên một kỷ niệm đẹp như cổ tích trong đời thường này?
Đó là cách mà dù ngành khách sạn có bị suy thoái bởi các mô hình đột phá mới như AirBnB thì Ritz Carlton vẫn sẽ phát triển, vẫn có thị trường của mình. Vì những điều thuộc về cảm xúc con người thường là cấp độ trải nghiệm khách hàng cao nhất, điều mà công nghệ không thay thế được. Vì sự thấu hiểu và tình yêu là thứ khó thể tự động hóa, số hóa được.
Khách sạn Ritz Carlton Singapore. Ảnh: Life's Tiny Miracles.
Ngược lại với trải nghiệm trên, một khách hàng đi cùng con gái ra đến một cửa hàng thời trang ở Sài Gòn để đổi hàng vì không mặc vừa. Nhân viên của hãng thời trang này lạnh lùng báo với anh rằng anh không được đổi vì lý do gì đó. Nam khách hàng này ngạc nhiên vì thái độ lạnh nhạt và chính sách của hãng. Bố con anh chỉ muốn đổi thôi chứ có trả lại đâu. Nhân viên khăng khăng rằng họ đang làm theo chính sách, nếu anh muốn thì anh phải viết đơn tường trình.
Quá bất giờ với việc yêu cầu khách hàng viết đơn để anh ta gửi cho cấp trên, nhưng vị khách hàng vẫn cặm cụi viết tường trình và ghi rõ nguyện vọng của mình để đưa cho nhân viên cửa hàng. Tuy nhiên, thư đã viết và được gửi đi đã vài tuần mà chưa được hồi âm.
“Văn hóa của bạn là thương hiệu của bạn” là triết lý của Tony Hsieh - nhà sáng lập, ông chủ thương hiệu giày Zappos nổi tiếng thế giới. Đúng như vậy, văn hóa doanh nghiệp quyết định cách bạn hành xử với khách hàng, và cách bạn hành xử tạo nên cảm nhận của khách hàng và đó là thuộc tính thương hiệu của bạn trong lòng khách hàng.
Sáng tạo ra trải nghiệm xuất sắc của Ritz Carlton đến từ một nền văn hóa lấy khách hàng làm trung tâm. Tuy nhiên, nhân viên có mong muốn làm điều tốt cho khách hàng không có nghĩa họ sẽ làm được. Công ty cần đào tạo, hướng đẫn và cho họ công cụ nữa. Chỉ hô hào và truyền cảm hứng chưa đủ.
Những công ty có trải nghiệm khách hàng xuất sắc, có hai quyết định quan trọng: một là quyết định tin vào khách hàng của mình, và hai là quyết định tin vào nhân viên của mình.
Và đây, Ritz Carlton có quy tắc 2.000 đô la nổi tiếng đã tạo nên những trải nghiệm để đời cho khách hàng. Khách sạn này cho phép nhân viên từ cấp thấp nhất có thể dùng 2.000 đô la cho một lần giải quyết phàn nàn của khách hàng, hoặc thực hiện bất cứ việc gì mà họ có thể mang lại niềm vui bất ngờ cho khách hàng.
Công ty có niềm tin sâu sắc vào tinh thần trách nhiệm và khả năng nhận định của nhân viên với những vấn đề liên quan đến khách hàng. Điều đó mang lại sự nhanh chóng, thuận tiện và sự tin cậy của khách hàng. Đó là công cụ.
Nếu bạn chỉ hô hào quân của mình xông lên giết giặc, nhưng bạn cầm toàn bộ súng và nói rằng khi nào muốn bắt thì báo bạn đưa súng cho mà bắn, thì chắc là cả đội sẽ hy sinh. Không chỉ vì họ không có vũ khí mà còn vì khả năng sáng tạo và linh hoạt đã bị phế bỏ.
Văn hóa sẽ quyết định chính sách và công cụ, nhưng chính sách và công cụ cũng là khởi nguồn của việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp lấy khách hàng làm trung tâm. Bởi vì, xây dựng văn hóa rất gần với xây dựng thói quen, mà thói quen của nhân viên thì bắt đầu từ những hành động được định hướng bằng công vụ và chính sách.


Những công ty có trải nghiệm khách hàng xuất sắc, có hai quyết định quan trọng: một là quyết định tin vào khách hàng của mình, và hai là quyết định tin vào nhân viên của mình.

Xây dựng mối quan hệ khách hàng Gen Y & Z với CRM và dữ liệu

cuộc thi thiết kế logo asanzo YourDesigner.Vn
https://thietkelogohcm247.blogspot.com/p/thiet-ke-logo-hcm.html

Tìm kiếm khách hàng, thuyết phục khách hàng mua và sử dụng dịch vụ và sản phẩm vốn không dễ dàng. Sau khi có khách hàng rồi thì việc giữ chân họ lại để tiếp tục sử dụng dịch vụ và sản phẩm lại cũng là một tiến trình nhiều thách thức.
Vốn là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào, việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng đã trở nên tốt hơn, chuyên sâu hơn, đa dạng hơn và phần nào phức tạp hơn nhờ sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật và dữ liệu. Đặc biệt với nhóm đối tượng khách hàng với thiên hướng digital chiếm một phần lớn thị trường hiện nay là Gen Y (hay còn gọi là Millennial) và ngay tiếp theo đó là Gen Z (Centennial), doanh nghiệp lại càng cần phải có quy trình và cách thức để xây dựng mối quan hệ hướng tới 2 nhóm này một cách bài bản hơn. Bài viết này nhằm đưa ra ý kiến cá nhân của người viết về hệ thống CRM, phương pháp tiếp cận và cách các doanh nghiệp có thể tận dụng CRM để tương tác hiệu quả với các khách hàng nói chung và 2 nhóm Gen Y, Gen Z nói riêng.
Để bạn đọc dễ nắm được thì tôi sẽ đi từ một số khái niệm và thông tin về CRM, sau đó tới phân tích nhóm đối tượng Gen Y và Gen Z và cuối cùng là các bước xây dựng và duy trì tương tác với 2 nhóm khách hàng này.

1. CRM là gì? Giá trị của hệ thống CRM đối với doanh nghiệp

CRM là viết tắt của Customer Relationship Management – là quy trình/cách thức mà một doanh nghiệp sử dụng để tiếp cận và tương tác với các khách hàng hiện tại hoặc tiềm năng. Hệ thống CRM giúp doanh nghiệp tổng hợp dữ liệu từ các nguồn khác nhau như website, mạng xã hội, livechat, đội ngũ sales, hệ thống tại điểm bán (POS) để phân loại các nhóm đối tượng khách hàng, hiểu về họ hơn và thông qua đó có thể chăm sóc, tiếp cận và phục vụ họ tốt hơn.
Các hệ thống CRM tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau và một số công cụ như Google Sheet/Excel spreadsheet, Mailchimp hiện nay có tính năng như một CRM giúp thu thập, lưu trữ và phân loại thông tin khách hàng ở mức cơ bản. CRM có thể là một phần của một hệ thống lớn hơn gọi là ERP (Enterprise Resource Planning) hoặc có thể là một hệ thống riêng biệt tùy nhu cầu của công ty. Hệ thống CRM riêng biệt thường sẽ có khả năng tùy chỉnh tốt hơn so với hệ thống tích hợp sẵn trong ERP. CRM có thể tích hợp sẵn một số công cụ truyền thông như email/SMS hoặc doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ riêng và kết nối chúng vào hệ thống để thực hiện các chiến dịch tương tác với khách hàng ngay trên CRM.

Các loại CRM chuyên dụng và lợi ích đặc trưng

Ngoài các hệ thống CRM căn bản thì còn có một số CRM chuyên dụng với một số tính năng đặc trưng:
  • eCommerce CRM: hệ thống CRM được xây dựng với mục đích phục vụ cho ecommerce và tập trung vào việc tương tác với khách hàng online, kết nối với hệ thống thanh toán online, tích hợp shopping cart,v.v…
  • Social CRM: mạng xã hội ngày nay không còn đơn thuần chỉ là một nơi người dùng tương tác với thương hiệu mà còn là nơi diễn ra các hoạt động mua bán nhộn nhịp. Lúc này social CRM đóng vai trò là trung gian giữa hoạt dộng mua bán và các hoạt động tương tác trên mạng xã hội. Social CRM không chỉ giúp đo lường và cải thiện các tương tác mà còn cả các hoạt động bán hàng. Một số social CRM tồn tại độc lập, một số thì đơn giản là một cái integration thêm của hệ thống CRM truyền thống.
  • Mobile CRM: một số hệ thống CRM cung cấp thêm phiên bản mobile để cho phép các nhân viên của doanh nghiệp có thể truy cập vào các tính năng của CRM mọi lúc mọi nơi một cách dễ dàng.
Hệ thống CRM nhìn chung với một mức giá phải trả nhất định (dù là phí sử dụng hay chi phí nhân sự để tự duy trì) mang tới cho doanh nghiệp rất nhiều giá trị, bao gồm:

Thu thập và quản lý thông tin khách hàng

Dữ liệu từ CRM thể hiện các hành vi lặp lại, các xu hướng của khách hàng giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định đúng đắn cho thị trường. Với CRM, các nhân viên sales, marketing và chăm sóc khách hàng có thể nhanh chóng lưu trữ thông tin khách hàng vào hệ thống, bất cứ khi nào, ở bất cứ đâu giúp tiết kiệm thời gian và tập trung nhiều hơn vào các tác vụ chính. Ví dụ:
  • Tự động hóa: thực hiện các tác vụ hằng ngày mà không cần con người làm. Khi khách hàng mua hàng thành công, CRM tự động gửi biên nhận qua email hoặc khi khách hàng đặt lịch tư vấn thì tự động có email/SMS nhắc họ về giờ hẹn.
  • Cá nhân hóa: với dữ liệu cụ thể như thông tin liên hệ, nhân khẩu học, lịch sử mua bán đều được lọc và dễ dàng tìm thấy chỉ với vài bước, doanh nghiệp có thể cá nhân hóa dịch vụ khi giao tiếp với khách hàng. Khi bấm vào thông tin khách hàng bạn có thể biết được khách này đã mua bao nhiêu món và là món gì ở cửa hàng (thông tin từ hệ thống POS), khách hàng này nhận bao nhiêu email từ thương hiệu, họ đọc/không đọc bao nhiêu email (thông tin từ hệ thống email) hay họ đã ghé qua website bao nhiêu lần, từ những nguồn nào (thông tin từ web),… Từ đó, khi gửi email cho khách hàng, CRM sẽ tự động nhắc đến tên riêng của khách cùng lịch sử mua hàng (anh/chị đã mua ở cửa hàng chúng tôi 2 đôi giày) để khiến họ cảm thấy thương hiệu thật sự biết rõ khách hàng là ai.
  • Phân tích hành vi khách hàng: CRM giúp cho doanh nghiệp thấy được các hành vi lập lại (pattern), các xu hướng của khách hàng mà có thể rất hữu dụng trong việc xây dựng chân dung khách hàng và định hình chiến lược tiếp cận họ.

Đồng bộ hóa Marketing và Sales

Với CRM, các nhân sự chuyên trách có thể truy cập hệ thống dữ liệu và lập báo cáo về khách hàng nhanh chóng, dễ dàng theo thời gian thực. Team Sales có thể cập nhật các thông tin từ khách hàng giúp Marketing tạo ra các chiến dịch tương tác với khách hàng hiệu quả trong khi đó Marketing có thể cung cấp cho Sales khách hàng tiềm năng.
Ví dụ: Với 100 khách hàng đăng ký trên website tuần vừa rồi, team Marketing có thể biết số lượng khách mà team Sales đã liên hệ và có bao nhiêu khách trong đó không phù hợp, họ đến từ nguồn nào. Từ đó team Marketing có thể điều chỉnh chiến lược và tối ưu quảng cáo. Sự chia sẻ thông tin hai chiều giúp đẩy nhanh quá trình bán hàng và doanh số chung.

Tăng khả năng bán hàng

Với dữ liệu trong tay, doanh nghiệp có thể đánh giá chất lượng khách hàng nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chỉ tập trung vào các khách hàng tiềm năng thật sự. Dựa vào các data, doanh nghiệp cũng có thể dễ dàng thấy được khách hàng nào phù hợp để cross-sell hay up-sell. Doanh nghiệp cũng biết được các khách hàng cũ nào đã lâu không hoạt động để khuyến khích họ mua hàng lại. Ngoài ra tương tác với khách hàng tốt hơn cũng sẽ khiến họ hài lòng hơn, trung thành hơn và qua đó cải thiện doanh thu.
  • Báo cáo theo thời gian thực: báo cáo của doanh nghiệp lúc này sẽ dựa vào các thông tin từ CRM vốn là các thông mới nhất và được cập nhật đầy đủ nhất tại thời điểm đó. Việc trích xuất báo cáo lúc này đơn giản chỉ bằng việc thực hiện vài thao tác.
  • Dự đoán về bán hàng được chính xác hơn: với một cái nhìn tổng quan và rõ về các khách hàng đang có, các khách hàng đang nằm trong danh sách tiếp cận và tình trạng hiện tại của họ, các đơn hàng nào có khả năng được chốt và giúp cho team sales có một dự đoán về tình hình doanh số tốt hơn.

Quản lý chiến dịch hiệu quả

Doanh nghiệp có thể tạo và quản lý các chiến dịch tương tác với khách hàng ngay trên CRM. Ví dụ: Bạn có thể dễ dàng phân khúc các nhóm khách hàng theo tiêu chuẩn là đã từng ghé tư vấn nhưng chưa quyết định mua hàng và gửi một chiến dịch SMS cho nhóm khách hàng này với thông tin về khuyến mãi riêng dành cho họ nếu họ mua hàng ngay trong 3 ngày tới. Không chỉ vậy, với hệ thống Social CRM, doanh nghiệp có thể nhanh chóng phản hồi các ý kiến của khách hàng dù là tiêu cực hay tích cực trên mạng xã hội.

2. Hiểu thêm về Gen Y và Gen Z

Gen Y hay còn gọi là Millenials là nhóm khách hàng trong độ tuổi từ 20 – 35 vào thời điểm hiện tại và chiếm một phần lớn tổng số lượng khách hàng của nhiều doanh nghiệp và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đây là nhóm khách hàng đã trưởng thành và tiếp cận với mobile/internet/social từ sớm và cũng đã chứng kiến các khoảng khắc giao thời (thời kỳ mở cửa, thế kỷ 20 sang 21, sự kiện Y2K, phổ cập internet, sự xuất hiện của smartphone, v.v…). Chính vì vậy nhóm đối tượng này sở hữu một số đặc trưng về hành vi:
  • Thành thục về công nghệ và điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình mua hàng của họ. Điều này thấy được qua việc Gen Y thường so sánh giá trên các trang khác nhau cho cùng sản phẩm hoặc thường đọc review online trước khi quyết định mua một món hàng nào đó.
  • Không thích cưới và sinh quá sớm. Gen Y là thế hệ mà trong đó họ ưu tiên về trải nghiệm hơn là việc ổn định và lập gia đình so với các thế hệ trước.
  • Thích thuê hơn là mua. Gen Y cũng là nhóm đối tượng không thích bị gò bó bởi gánh nặng về sự sở hữu. Họ thích tiếp cập để sử dụng dịch vụ sản phẩm chứ không thích sở hữu chúng.
  • Mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc tương tác và kết nối với nhóm khách hàng này.
  • Thích sự tiện lợi. Gen Y sẵn sàng chi nhiều tiền hơn để nhận lại sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian.
  • Quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe so với các nhóm tuổi khác.
  • Bị tác động bởi những người có ảnh hưởng (KOLs / Influencers) nhưng vẫn có chính kiến riêng của mình
  • Là người quyết định trong việc chi tiêu trong việc mua sản phẩm
Gen Z là nhóm đối tượng tiếp theo của Gen Y với độ tuổi trong khoảng 2 – 19. Tuy nhiên đối với marketer thì phù hợp để target là nhóm từ 10 tuổi trở lên, tùy theo ngành. Đây là nhóm đối tượng sinh ra trong môi trường đã bão hòa về digital, mobile và social nên suy nghĩ và hành vi sẽ rất khác biệt so với các nhóm độ tuổi khác. Về mặt kinh tế, Gen Z cũng được sinh ra trong nền kinh tế phát triển và ổn định nên tư duy về mua sắm tiêu dùng cũng khác so với Gen Y trước đó. Một số đặc trưng của nhóm này là:
  • Là các ‘công dân’ digital thực sự. Mạng xã hội, internet và điện thoại trở thành một phần không thể thiếu của nhóm này.
  • Yêu thích những thứ mang tính trải nghiệm nhất thời, khoảng khắc hơn là những kế hoạch dài hạng.
  • Dễ bị tác động bởi những người nổi tiếng và chưa có chính kiến rõ rệt về các vấn đề xã hội
  • Dễ bị thu hút bởi các xu hướng mới nổi trội trên mạng xã hội
  • Đôi khi có thể không phải là người quyết định về mặt tài chính trong việc mua sản phẩm (người quyết là ba, mẹ – nhóm Gen Y hay Gen X)
Trong một nghiên cứu đến từ Kantar Millward Brown, hãng này đã chỉ ra sự khác biệt giữa Gen Y và Z về cách thức họ nhìn nhận về quảng cáo, những kênh nào dễ tiếp cận với mỗi nhóm và những yếu tố nào thu hút họ trong nội dung:
Hiểu về 2 nhóm đối tượng này sẽ giúp doanh nghiệp có một góc nhìn rõ ràng hơn việc tương tác với khách hàng này như thế nào.

3. Xây dựng mối quan hệ và tương tác với khách hàng dựa vào CRM

Nhằm phân tích sự khác biệt trong cách xây dựng mối quan hệ và tương tác với khách hàng Gen Y và Gen Z, chúng ta sẽ sử dụng thương hiệu X làm ví dụ. X là một thương hiệu giày sneaker mà nhóm đối tượng khách hàng phù hợp bao gồm cả 2 nhóm trên. Khách hàng có thể mua sản phẩm sneaker X ngay trên website hoặc có thể đến các chi nhánh cửa hàng để mua. Và chúng ta giả định rằng thương hiệu X đã xây dựng nền tảng CRM với đầy đủ tính năng cần thiết. Vậy lúc này X nên xây dựng, duy trì mối quan hệ tương tác với khách hàng thông qua CRM như thế nào?

Bước 1: Xác định các điểm chạm trong hành trình của khách hàng

Điểm chạm trong hành trình của khách hàng diễn ra từ trước khi khách hàng mua hàng, từ lúc họ thấy quảng cáo của thương hiệu trên Facebook hay tìm kiếm từ khóa liên quan trên Google hoặc xem nội dung trên Instagram của sneaker X và sau đó vào trang sản phẩm để mua hàng. Hoặc họ có thể nghe về sneaker X từ bạn bè sau đó lên Google tìm địa chỉ và đi thẳng đến cửa hàng để mua. Vậy việc quan trọng là cần xác định các điểm chạm này là gì, những điểm chạm nào có khả năng thu thập được thông tin khách hàng (ví dụ mua hàng trên website thì khuyến khích họ đăng ký tài khoản hoặc mua hàng ở cửa hàng thì khuyến khích họ đăng ký làm thành viên để nhận ưu đãi). Một khách hàng có thể thay đổi hành vi, lần này họ mua hàng online nhưng lần tiếp theo họ lại đến cửa hàng để mua, do đó điều quan trọng là xác định được những điểm chạm nào là cần thiết để biến nó thành một cột mốc trong hành trình khách hàng.

Bước 2: Phân loại đối tượng khách hàng và các hành vi của họ

Như đã nói ở trên, hệ thống CRM có lưu trữ đầy đủ các thông tin cơ bản về khách hàng đồng thời cũng giúp doanh nghiệp thu thập thông tin trong suốt quá trình khách hàng tương tác với các điểm chạm. Kết hợp các thông tin này lại với nhau, thương hiệu X có thể bắt đầu xây dựng một số chân dung khách hàng để áp dụng chiến lược đẩy sales, chiến lược marketing phù hợp với từng nhóm riêng biệt. Phân loại càng chi tiết, X càng dễ tiếp cận được khách hàng của mình. Có thể liệt kê một số phân nhóm khách hàng đơn giản và dựa trên đó có thể cắt lớp thêm nhóm khách hàng Gen Y và Z:
  • Khách hàng thân thiết và khách hàng bình thường dựa trên tần suất mua sản phẩm.
    Ví dụ: Gen Y thường là các khách hàng trung thành so với Gen Z ưa chuộng những thứ mới mẻ, chất lượng và hiếm có. Vì vậy, có thể Gen Y thích những chương trình chăm sóc khách hàng (loyalty program) mà họ được nhận các giá trị cộng thêm, trong khi đó Gen Z thì lại thích những chương trình khuyến mãi dạng flash sales, limited.
  • Khách hàng chi tiêu cao và khách hàng chi tiêu thấp dựa trên tổng doanh số mua sản phẩm.
    Ví dụ: Gen Y làm chủ tài chính nên có khả năng chi tiêu cao hơn Gen Z. Vì vậy, Gen Z sẽ thường chuộng một số dòng sneaker mẫu mã đẹp với giá vừa phải hơn trong khi Gen Y hứng thú với các dòng sản phẩm chất lượng và cao cấp hơn.
  • Khách hàng phân chia theo độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm làm việc chuyên môn,…
    Ví dụ: các khách hàng Gen Y đa phần là đang đi làm, có gia đình trong khi nhóm Gen Z thì đại đa số là còn đi học, độc thân. Nhưng trong từng nhóm này, lại có thể chia thành từng nhóm nhỏ hơn. Gen Y thì cũng có nhóm người bắt đầu đi làm, người đi làm 5 năm và người đã đi làm hơn 10 năm, có gia đình hay chưa. Với Gen Z thì có nhóm sinh viên, trung học phổ thông, cơ sở, tiểu học và chia theo giới tính, mỗi nhóm này có thể có một nhu cầu về ăn mặc khác nhau và do đó khi mua giày sneaker họ cũng tìm kiếm những quy chuẩn khác nhau.
… và còn nhiều cách thức nữa để bạn có thể phân loại khách hàng.

Bước 3: Xây dựng mục tiêu tương tác và KPI

Trước khi tiến hành tạo ra các tương tác với khách hàng, thương hiệu X cần xác định rõ mục tiêu tương tác là gì, KPI của các hoạt động này với từng nhóm khách hàng đã phân loại ở bước 2.
Với các khách hàng đã bỏ hàng vào giỏ nhưng chưa thanh toán, cần nhắc họ về giỏ hàng chưa được thanh toán, thúc giục họ mua hàng. KPI xác định tỷ lệ tái chuyển đổi của giỏ hàng online đã bị bỏ lỡ phải tăng bao nhiêu %.
Với các khách hàng cũ, cần tăng tỷ lệ tái mua sắm và tăng tỷ lệ khách hàng cũ trở thành khách hàng trung thành. Mỗi phần này đều cần có một chỉ số KPI rõ ràng.
Với các khách hàng mua sắm lần đầu, X cần tăng độ phủ truyền thông về các chương trình khuyến mãi để kích thích mua hàng.
Với khách hàng chưa từng mua, X cần thu hút họ bằng những tư liệu truyền thông đúng thông điệp – đúng người – đúng thời điểm. KPI của phần này có thể là tỉ lệ reach tới các khách hàng mới sau khi đã exclude các khách hàng cũ trên các kênh truyền thông digital hoặc chủ động lựa chọn các kênh mới để tiếp cận.
Bạn có thể đọc thêm bài viết về cách thiết lập KPIs để có thể làm việc này một cách hiệu quả hơn

Bước 4: Tạo ra các tương tác có giá trị

Sau khi đã xác định rõ mục tiêu thì lúc này doanh nghiệp có thể bắt đầu tạo ra các loại tương tác dựa vào các điểm chạm, dựa vào đối tượng khách hàng là ai để phục vụ mục tiêu đó. Các tương tác lúc này có thể là một email, sms, cuộc điện thoại, thông báo trên ứng dụng hay re-targeting trên website. Lựa chọn phương thức tương tác phù hợp, tại thời điểm thích hợp với nội dung được cá nhân hóa và tối ưu hóa cho nhóm đối tượng lựa chọn nhằm thuyết phục họ thực hiện mục tiêu mà mình đã lựa chọn. Ví dụ, X có thể đẩy thông báo và ưu đãi riêng để thúc giục khách hàng đã bỏ hàng vào giỏ nhưng chưa thanh toán. X đưa những ưu đãi riêng cho khách hàng thân thiết khi tái mua sắm hoặc giới thiệu bạn bè mua hàng qua tin nhắn, email hay điện thoại. Với một chương trình flash sale hay khuyến mãi lớn, X có thể re-targeting bám đuổi khách hàng từng vào website hay nhắn tin cho các khách hàng từng được tư vấn mua hàng qua fanpage cũng là một lựa chọn.
Cách thức tương tác đối với nhóm Gen Y và Z cũng sẽ cóc sự khác biệt rõ rệt. Ví dụ các nội dung email tự động khi gửi Gen Y nội dung có thể tập trung vào các sản phẩm sneaker tương đối cao cấp, thông tin về các chương trình khách hàng thân thiết, hình ảnh nên theo hướng bày tỏ style sành điệu nhưng vẫn đẳng cấp. Trong khi đó cho đối tượng Gen Z thì nội dung nên hướng về các sản phẩm sneaker giá hợp lý, các chương trình khuyến mãi, hình ảnh với style trẻ trung hơn, năng động hơn. Ngoài ra Gen Y có thể thích các tương tác kiểu gọi điện tư vấn và chăm sóc trực tiếp hơn trong khi đó Gen Z lại thích các tương tác thông qua mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin OTT. Và ta cần lựa chọn ra phương thức tương tác tốt nhất với nhóm đối tượng đó.

Bước 5: Đo lường, đánh giá và liên tục tối ưu hóa

Sau khi đã thiết lập các chuỗi tương tác, lúc này doanh nghiệp có thể theo dõi và đánh giá các hoạt động này có đạt được mục tiêu đã đề ra hay không? Có cách nào để tối ưu hóa các tương tác này về phân loại và nhắm chọn đối tượng, về nội dung, cách thức tương tác? Mỗi thay đổi này cần được ghi nhận lại để quan sát và tiếp tục đánh giá đến khi tìm ra phương pháp tối ưu nhất.
Lúc này nên đo lường và đánh giá hiệu quả của các tương tác trên từng nhóm đối tượng riêng biệt. Ví dụ với Gen Y thì hoạt động vừa rồi tạo ra bao nhiêu khách hàng tham gia chương trình khách hàng trung thành? Với Gen Z thì chương trình khuyến mãi vừa rồi tạo ra bao nhiêu đơn hàng mới? Những đợt gọi điện chăm sóc khách hàng có khiến họ quay lại cửa hàng để mua sản phẩm hay không? Những flash sales khuyến mãi trong ngày có thôi thúc họ mua nhiều hơn không,v.v…

4. Tổng kết

Quy trình về việc xây dựng tương tác tổng quan là như vậy nhưng cách thức thực hiện của mỗi doanh nghiệp tùy theo ngành nghề sẽ khác nhau và ngay cả trong cùng một doanh nghiệp thì cách thức để tương tác với từng nhóm đối tượng khách hàng cũng sẽ khác nhau. Đừng bao giờ đối xử với tất cả các khách hàng của bạn như nhau, hãy phân loại một cách hợp lý, xác định các điểm chạm và hoạt động tương tác phù hợp cũng như cá nhân hóa ứng với từng nhóm khách hàng.
Hy vọng những chia sẻ bên trên đã mang lại cho bạn đọc góc nhìn rõ ràng và toàn diện hơn về hệ thống CRM và các đóng góp của chúng vào quá trình xây dựng tương tác với các khách hàng để tiếp cận hai nhóm khách hàng tiềm năng Gen Y và Gen Z hiện nay.